THỜI TIẾT - THÔNG TIN CẦN BIẾT

--Tiên Đoán Tình Yêu--

Thống Kê

--Số Lượng Truy Cập--

Hiển thị các bài đăng có nhãn Nhận Định Chuyên Gia. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nhận Định Chuyên Gia. Hiển thị tất cả bài đăng

Giảm lãi suất VND là hợp lý

Chủ Nhật, 4 tháng 12, 2011

Giảm lãi suất VND sẽ tạo nhiều thuận lợi cho nền kinh tế - đó là nhận xét của PGS - TS Trần Hoàng Ngân - thành viên HĐ Tư vấn chính sách tài chính - tiền tệ quốc gia.

Theo ông Ngân, chỉ đạo của Chính phủ về việc giảm lãi suất VND là hợp lý, thực hiện càng sớm càng tốt. Ông Ngân nói:


- Trong báo cáo của Chính phủ trước Quốc hội có ghi: “Giảm dần lãi suất theo mức giảm của lạm phát, chủ động điều hành thực hiện lạm phát mục tiêu”. Thủ tướng cũng đã yêu cầu điều hành chính sách tiền tệ theo mục tiêu lạm phát năm 2012 dưới 10%. Chỉ số CPI trong những tháng gần đây cho thấy lạm phát đã được kiểm soát tốt hơn trước, thể hiện xu hướng tốc độ tăng giá giảm dần. Vì vậy, xu hướng điều hành lãi suất giảm là xu hướng tất yếu trong giai đoạn tới, còn giảm ở thời điểm nào là do NHNN lựa chọn và quyết định. Theo tôi, lãi suất giảm càng sớm càng tốt.   

Cụ thể, việc giảm lãi suất sẽ có lợi như thế nào, thưa ông?

- Việc giảm lãi suất sẽ tạo nên những hiệu ứng tốt cho nền kinh tế, trước hết là góp phần làm giảm lãi suất cho vay trong thời gian tới. Sau khi NHNN chỉ đạo thực hiện chặt chẽ quy định trần lãi suất đầu vào 14%, lãi suất đầu ra đã giảm xuống còn 17 - 18%, có những trường hợp giảm còn 16%, nhưng vẫn cần tiếp tục giảm sâu hơn.

Lãi suất giảm giúp cho DN tiếp cận nguồn vốn chi phí thấp, duy trì và mở rộng sản xuất kinh doanh, tạo công ăn việc làm cho người lao động... Lãi suất NH giảm còn giúp DN thuận lợi hơn trong việc phát hành CP trên thị trường CK, thúc đẩy tiến độ CP hóa DN nhà nước, tạo điều kiện cho thị trường CK phát triển. Việc thoái vốn đầu tư ngoài ngành của các DN cũng dễ dàng, thuận lợi hơn do tăng thanh khoản trên thị trường CK...

Trong đợt siết chặt lãi suất trần huy động còn 14% vừa qua có hiện tượng người dân rút tiền khỏi NH, gây khó khăn cho một số NH nhỏ. Lãi suất liên NH vì vậy tăng cao, có lúc vượt 30%. Người dân gửi tiền quen tính toán lãi suất thực dương. Theo ông, nếu lãi suất đầu vào tiếp tục hạ có gây khó khăn cho một số NH thương mại?

- Một chính sách mới ban hành bao giờ cũng có tác dụng phụ. Nghị quyết 11 của Chính phủ đã có những thành công bước đầu trong ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát, nhưng kèm theo đó là chính sách tiền tệ thắt chặt, lãi suất cao khiến cho nhiều DN thua lỗ, có đến 48.700 DN ngừng sản xuất hoặc phá sản.

Việc giảm lãi suất có thể kéo theo hiệu ứng là người dân rút bớt tiền khỏi NH, nhất là các NH nhỏ, yếu kém. Vì vậy, trước khi giảm lãi suất NHNN cần chuẩn bị chính sách hỗ trợ thanh khoản cho các NH nhỏ. Việc dân rút tiền khỏi NH không hẳn chỉ là xấu. Nếu một lượng tiền chuyển sang đầu tư CK hoặc tiêu dùng trong dịp tết, giúp các DN tiêu thụ được hàng hóa cũng là tốt.

Giảm lãi suất cũng sẽ tạo áp lực đối với thị trường ngoại tệ và NHNN cũng cần tăng cường kiểm soát, quản lý để tránh tình trạng căng thẳng USD, cụ thể là kiểm tra USD chợ đen, hạn chế cho vay bằng USD. Giá USD trên thị trường tiền tệ thế giới đang giảm, nếu so với VND, giá USD tăng sẽ làm cho lạm phát tăng.

 Về lãi suất thực dương, trong 4 tháng qua chỉ số CPI bình quân mỗi tháng dưới 1%, riêng trong tháng 11 chỉ có 0,39%. Nếu hạ lãi suất trần tiền gửi xuống 12% thì người gửi vẫn được lãi suất thực dương.

- Cảm ơn ông!

 Theo Lao Động
-->Đọc thêm...
Đọc Thêm | nhận xét

Thị trường chứng khoán đang như cơ thể yếu

Thứ Năm, 24 tháng 11, 2011


Ông Vũ Bằng: “Thị trường chứng khoán đang rất cần sự hỗ trợ từ ngân hàng”.

Thị trường chứng khoán (TTCK) liên tục suy giảm do tác động những bất ổn từ kinh tế thế giới, khó khăn của kinh tế trong nước. Tâm lý nhà đầu tư, doanh nghiệp niêm yết và các công ty chứng khoán rơi vào bi quan. Liệu cơ quan quản lý có cách gì để cải thiện tình hình?

Hôm qua (16-11), Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) Vũ Bằng chia sẻ với báo chí. 

Mong được ngân hàng hỗ trợ

Ông Bằng cho biết: Thời gian qua TTCK gặp khó khăn. TTCK các nước, khu vực đều có sự sụt giảm. Hầu hết chỉ số thị trường chính đều giảm (ngoại trừ Down Jone) như: châu Âu, châu Á, Hồng Kông, Nhật Bản đều giảm dao động 12-19% so với cuối năm 2010. Riêng các nước gặp khủng hoảng nợ sụt giảm 30-40%.

Ở trong nước, từ đầu năm tới nay, VN-Index giảm khoảng 16%. Kinh tế trong nước tác động khiến cho các doanh nghiệp niêm yết khó khăn, có đến 60% công ty lợi nhuận sụt giảm, giá cổ phiếu giảm còn 40-50% so với năm 2010, hiện có 71/105 công ty chứng khoán lỗ luỹ kế (tổng lỗ khoảng 2.000 tỷ), hoạt động huy động vốn gặp nhiều khó khăn, thành công chào bán cổ phiếu giảm mạnh.

Về chỉ số Index, năm 2008 thị trường cũng bị sức ép mạnh về tâm lý khốc liệt khi từ đỉnh 1.200 điểm giảm sâu xuống ngưỡng dưới 300 điểm; còn năm nay dù tính ra mức suy giảm của VN- Index mới vào khoảng 16% nhưng do thị trường đang như một cơ thể yếu nên sức chịu đựng lần này kém hơn. Nói chung, thị trường xuống bởi những tác động từ chính sách vĩ mô là chính.

Một trong những lý do khiến TTCK suy giảm đó là tác động từ thắt chặt tín dụng, hạn chế cung tiền?

Theo tôi, không nên ép phi sản xuất vào bất động sản vì bản thân thị trường bất động sản vẫn có những giá trị riêng. Hiện tình hình nhiều doanh nghiệp niêm yết trong đó có bất động sản rất bi quan, 70% dưới giá trị sổ sách, phát hành cổ phiếu từ đầu năm tới nay suy giảm, doanh nghiệp không tiếp cận được vốn. Trong khi đó tái cấu trúc ngân hàng thì sẽ phải huy động vốn mà chứng khoán xuống thì càng không thể huy động được vốn. Nói chung, dưới góc độ thị trường, chúng tôi mong ngân hàng sẽ hỗ trợ. 

Phải giảm số công ty chứng khoán

Hiện dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài vào Việt Nam qua chứng khoán ra sao, thưa ông?

Dòng vốn gián tiếp vào TTCK năm 2010 khá, khoảng 1 tỷ USD ròng. Từ đầu năm đến nay có lúc vào khoảng 500 triệu USD, nhưng tháng 9, 10 có điều chỉnh, tính chung từ đầu năm đến nay vẫn dương. Nhìn chung, dòng vốn gián tiếp vào Việt Nam tùy thuộc vào kinh tế vĩ mô vì đây vẫn là yếu tố được cân nhắc, do có tính rủi ro.

Trong quá trình làm việc vừa qua, các tổ chức quốc tế rất quan tâm đến việc cho phép thành lập quỹ mở, hiện họ đã chuẩn bị lực lượng. Quỹ mở nếu được ban hành sẽ có thuận lợi là nhiều quỹ đóng (bị hạn chế bởi những người tham gia quỹ ban đầu-PV) đã đến hạn sẽ chuyển sang ngay, như vậy sẽ không tạo ra sức ép rút vốn với thị trường.

Với quá nhiều khó khăn đang phải đối mặt và trong năm 2012 sắp tới, Bộ Tài chính và UBCK sẽ có những giải pháp gì?

Khi thực hiện tái cấu trúc nền kinh tế, là cơ hội cho TTCK phát triển. Tái cấu trúc đầu tiên là giảm đầu tư công, do đó phải thúc đẩy đầu tư tư nhân. Đầu tư tư thì phải có vai trò của TTCK. Để tái cơ cấu DNNN thì phải thúc đẩy cổ phần hóa và mục tiêu này cũng phải dựa vào TTCK.

Để thúc đẩy sự phát triển lành mạnh, minh bạch của TTCK, UBCK sẽ cùng Bộ Tài chính triển khai các giải pháp như: dự thảo Chỉ thị của Thủ tướng về thúc đẩy hoạt động và tăng cường quản lý TTCK; đề án quản lý vốn gián tiếp; xây dựng hệ thống chỉ số mới; xây dựng đề án thành lập tổ chức xếp hạng định mức tín nhiệm...

Về khung pháp lý sẽ hoàn tất Nghị đinh xử phạt hành chính, Xây dựng hướng dẫn về thu lời bất chính để tăng mức xử phạt; Phối hợp với Bộ Công an xây dựng văn bản hướng dẫn xử lý hình sự các tội phạm trên TTCK. Các giải pháp này sẽ được trình, ban hành từ nay đến cuối năm và năm 2012.

Thế còn việc tái cơ cấu các công ty chứng khoán thì sao, thưa ông?

Việc tái cơ cấu các CTCK sẽ diễn ra sớm, có thể vào quý II-2012. Tới đây, chúng tôi sẽ làm việc với NHNN về phối hợp các giải pháp đối với TTCK như vấn đề tín dụng, hệ thống thanh toán, tái cấu trúc các CTCK khoán trực thuộc ngân hàng.

Việc tái cơ cấu sẽ không chỉ với những công ty yếu kém mà cả những công ty khoẻ cũng làm theo chuẩn và thông lệ quốc tế. Số lượng 105 CTCK đang hoạt động trên TTCK Việt Nam đúng là nhiều quá, chúng ta sẽ phải giảm xuống. Quan điểm của UBCK là sẽ xử lý căn cứ vào các tiêu chuẩn về tài chính, chứ không phải chỉ là CTCK lớn hay nhỏ.

Cảm ơn ông.
Tiền Phong
-->Đọc thêm...
Đọc Thêm | nhận xét

Doanh nghiệp đuối sức


Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp vừa và nhỏ Cao Sỹ Kiêm trao đổi về sức khỏe của doanh nghiệp.

Cập nhật đến cuối năm nay, ông thấy sức khỏe doanh nghiệp nhỏ và vừa như thế nào?

Ông Cao Sỹ Kiêm: Càng về cuối năm, doanh nghiệp nhỏ và vừa đã khó càng khó hơn. Sản xuất của nhiều doanh nghiệp đã bị đình trệ.

Lãi suất cho vay hiện nay nói là còn 17-19%, nhưng tiếp cận rất khó. Mức lãi suất đó nói là tập trung vào ba đối tượng là sản xuất hàng xuất khẩu, nông nghiệp nông thôn và doanh nghiệp nhỏ và vừa, nhưng chủ yếu là vào xuất khẩu chứ hai loại hình sau không được. Hơn nữa, mức lãi suất 17-19% hiện nay không phải là giá vốn tốt, cộng với chi phí đầu vào tăng lên nên doanh nghiệp gặp khó là điều dễ hiểu. Trong bối cảnh chung như thế, các doanh nghiệp nhỏ và vừa càng đuối sức hơn.

Hồi tháng 7 vừa rồi, Hiệp hội Doanh nghiệp vừa và nhỏ đưa ra báo cáo là 20% doanh nghiệp phá sản trong sáu tháng đầu năm. Đến nay ông có số liệu cập nhật không?

Bây giờ khó khăn hơn nhiều. Có nơi nói 40%, có nơi nói 50%, nhưng nói chung đến nay số doanh nghiệp phá sản, biến mất khỏi thị trường đã gấp đôi con số của tháng 7 rồi. Nếu kéo dài 5-6 tháng nữa thì tình hình sẽ trầm trọng thêm. Số phá sản, đình trệ sản xuất sẽ tăng lên rất nhanh.

Trong cuộc gặp với các doanh nhân gần đây thì ông nhận thấy tinh thần chung của họ như thế nào?

Tinh thần của doanh nghiệp hiện nay đang ở mức thấp nhất trong bốn năm nay. Họ thấy bế tắc, không rõ lối ra.

Tôi thấy họ có ba khuynh hướng. Một là đóng của chờ thời. Hai là chấp nhận khó khăn, chuyển hướng sản xuất. Thứ ba, tự động sáp nhập, giải thể.

Ông giải thích thế nào về giá trị sản xuất công nghiệp, xuất khẩu, rồi thậm chí cả GDP nữa vẫn tăng cao, trái với tình hình như ông vừa nói?

Giá trị sản xuất công nghiệp gia tăng là do lạm phát tăng. Trước đây sản phẩm bán giá 1 đồng, nay bán đồng rưỡi, tưởng là tăng lên, nhưng sự thật thì khác. Còn xuất khẩu tăng là do giá lương thực thực phẩm thế giới tăng. Đây là mặt hàng Việt Nam có lợi thế. Xuất khẩu tăng không đều ở các ngành hàng khác.
Còn các doanh nghiệp sản xuất để tiêu thụ nội địa thì đang có tình trạng sản xuất đình đốn như tôi vừa nói.

Về cá nhân, ông có chứng kiến những doanh nghiệp quen biết co hẹp sản xuất hay phá sản chưa?

Nhiều lắm chứ, ai cũng thế thôi. Anh nên đi thực tế mà xem, chỗ nào cũng có tình trạng đó. Mà không chỉ doanh nghiệp nhỏ và vừa khó khăn, các doanh nghiệp bất động sản, chứng khoán, ngân hàng cũng khó. Tới mấy trăm ngàn tỉ đồng đầu tư vào bất động sản mà giờ đắp chiếu thì làm sao bảo là tình hình ổn định, không có vấn đề gì được. Hiện nay, Chính phủ đã nhận thức rõ những thách thức này rồi.

Ông có quá bi quan không, khi mà vẫn có nhiều ý kiến cho là tình hình vẫn tốt với các chỉ số vừa được công bố?

Ai mà nhận xét tình hình tốt lên là không chuẩn xác. Có rất nhiều biểu hiện khó khăn rõ ràng. Chẳng hạn nói là tăng trưởng tín dụng 15%, nhưng bao nhiêu vào được sản xuất kinh doanh? Rất ít, vốn chỉ loanh quanh trong ngân hàng với nhau thôi.

Còn về số hơn 49.000 doanh nghiệp giải thể hoặc ngừng hoạt động trong 10 tháng đầu năm, mà Bộ Kế hoạch và Đầu tư báo cáo Quốc hội, tôi cho là chưa sát thực tế, phải lớn hơn, chứ không phải vậy. Tôi cho rằng năm 2012 sẽ còn tiếp tục khó khăn.
Theo Tư Giang - TBKTSG
-->Đọc thêm...
Đọc Thêm | nhận xét

Kiểm soát lạm phát: Không chỉ là mệnh lệnh hành chính!



TS Nguyễn Minh Phong, Viện Nghiên cứu phát triển kinh tế - xã hội Hà Nội đã có cuộc trao đổi với Đại Đoàn Kết về việc thực hiện, kiểm soát mục tiêu lạm phát từ 2 con số xuống 1 con số trong năm 2012 theo nghị quyết của Quốc hội.

Thưa ông, Quốc hội đề ra mục tiêu, điều chỉnh chỉ tiêu lạm phát năm 2012 xuống một con số, ông đánh giá thế nào về tính khả thi của mục tiêu trên?
Việc hạ chỉ tiêu lạm phát từ 2 con số xuống còn 1 con số là hết sức cấp thiết đối với nền kinh tế. Nếu lạm phát vẫn cao thì doanh nghiệp tiếp tục "chết”, người dân cũng không thể chịu nổi sức ép về lương và giá. Ngoài ra, nếu so sánh với thế giới, lạm phát các nước chỉ dừng ở mấy phần trăm. Do vậy, tất yếu hay không, việc hạ chỉ số lạm phát là điều phải làm

Còn tính khả thi? Nếu nói về nghĩa tuyệt đối thì chắc chắn được. Nhưng phải xét rằng, kiểm soát lạm phát còn phụ thuộc vào nhiều mục tiêu. Nếu hài hòa được các mục tiêu đặt ra, lúc đó độ khả thi về cơ bản được 60 – 70%.

Năm tới, nền kinh tế cũng không còn áp lực về cú sốc ngoại lạm phát nữa. Từ năm sau trở đi nếu theo đúng quy trình thì lạm phát sẽ ít có cơ hội cao nữa. Năm 2011, trong 2 quý đầu năm, chúng ta chịu sự dồn nén của tỷ giá. Năm 2012 không còn cơ hội này nữa. Thứ 2, là xu hướng lạm phát đang giảm, điều này gắn với việc cân đối lương thực thực phẩm của chúng ta tốt hơn. Lạm phát giờ chịu ảnh hưởng của yếu tố tiền tệ là lớn nhất. Do số tiền tồn đọng trong xã hội hiện nay là rất lớn. Vừa rồi, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tài chính đều có động thái mạnh trong kiểm soát tiền tệ. Dư chấn tiền tệ hi vọng sẽ tác động không nhiều vào lạm phát trong thời gian tới nữa.

Thêm vào đó, các căn nguyên của lạm phát sẽ phải xem xét, loại bỏ dần.

Nhưng vẫn còn một sức ép cơ bản ảnh hưởng tới CPI là việc tăng giá theo lộ trình các mặt hàng độc quyền: điện, than, nước...?

Đúng vậy, nếu không kiểm soát các mặt hàng độc quyền thì sẽ không thể kiểm soát được lạm phát. Tuy nhiên, chúng ta có thể hi vọng về tính minh bạch của các mặt hàng này. Việc tăng giá, hướng tới giá thị trường đã được đặt ra và các cơ quan quản lý đều khẳng định: phải chọn thời điểm và tính toán hợp lý. Thông tin về giá, cấu thành giá đối với điện, nước, xăng dầu cũng ngày càng yêu cầu cao. Sẽ không có chuyện tăng giá vô điều kiện.

Theo các chuyên gia, năm nào Chính phủ cũng đề ra những nhóm giải pháp toàn diện, nhưng việc thực hiện lại không nhất quán, khiến cho việc kiểm soát lạm phát không hề dễ. Trong 11 tháng của năm 2011 chúng ta đã 2 lần phải thay đổi chỉ tiêu lạm phát. Chính phủ nên thay đổi như thế nào?

Điều chỉnh chỉ tiêu lạm phát là điều đương nhiên, vì chúng ta đang có sự tách rời giữa dự báo kinh tế khoa học và ý chí chính trị. Thường thì mục tiêu bao giờ cũng tốt hơn thực tế. Hơn nữa do khách quan, tình hình về kinh tế - xã hội biến đổi rất nhanh. Nhiều khi giá hàng buổi sáng đã khác giá hàng buổi tối rồi. Giá ở miền núi lại khác giá đồng bằng. Chúng ta phải chấp nhận thay đổi chỉ tiêu nhưng chỉ trong giới hạn có thể.

Kiểm soát lạm phát phải đồng bộ. Ví dụ như siết đầu tư công phải tính chính xác cắt giảm ở đâu? Kiểm soát giá thị trường hay công tác bình ổn thị trường cũng cần tiến hành hiệu quả, thiết thực hơn...

Các cơ quan quản lý cho rằng, thời gian qua, việc biến động về vàng, chứng khoán cũng là nguyên nhân làm xáo trộn thị trường tiền tệ, ảnh hưởng mạnh tới lạm phát. Các nhà quản lý đang hướng tới việc hạn chế dần đối tượng vào sân chơi vàng và chứng khoán. Theo ông liệu việc quản lý như thế này có bền vững không?

Nhiều dự thảo về quản lý vàng, quản lý thị trường chứng khoán đã được đề cập trong thời gian gần đây. Nhưng việc hạn chế bớt đối tượng sản xuất và cung cấp vàng miếng trước mắt sẽ gây nguy cơ từ độc quyền nhà nước chuyển thành độc quyền doanh nghiệp. Thiếu hẳn cơ chế để kiểm soát độc quyền. NHNN chỉ đưa ra tiêu chuẩn hóa lọc bớt đối tượng vào sân chơi, còn không đưa ra công cụ kiểm soát độc quyền. Tôi nghĩ, trước đây có 7 doanh nghiệp được vào sân chơi sản xuất và cung ứng vàng thì giờ chỉ còn 1 và doanh nghiệp này lại là doanh nghiệp tư nhân; tại sao không để 1 tổ chức phi lợi nhuận được độc quyền trong sản xuất, cung ứng vàng miếng?

Quản lý thị trường chứng khoán, vàng mà đơn thuần dừng ở giải pháp hành chính là điều không thể được.

Vâng, xin cảm ơn ông!
-->Đọc thêm...
Đọc Thêm | nhận xét

Cạnh tranh ngân hàng: “Khó khăn nhất là xác định phân khúc”

Thị trường còn nhiều tiềm năng, nhưng cạnh tranh ngày một khốc liệt. Khó khăn nhất trong hoạt động ngân hàng tại Việt Nam là xác định phân khúc phù hợp với chiến lược của mỗi thành viên.

Việt Nam hiện có 42 ngân hàng thương mại. Trong đó, nhiều thành viên có bề dày truyền thống gắn với đặc thù của mình trong hoạt động. Như Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Agribank) có thế mạnh trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn; Ngân hàng Đầu tư và Phát triển (BIDV) có thế mạnh trong tài trợ các dự án phát triển hạ tầng; Ngân hàng Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) có thế mạnh về tài trợ xuất nhập khẩu và thanh toán quốc tế; Ngân hàng Á châu (ACB), Ngân hàng Kỹ thương (Techcombank), Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín (Sacombank)… nổi bật trong lĩnh vực ngân hàng bán lẻ…

Với khoảng chục ngân hàng thương mại cổ phần vừa chuyển đổi từ nông thôn lên đô thị, việc “chen chân” vào những mảng thị trường, những phân khúc đã định hình những thế mạnh đó, áp lực cạnh tranh càng lớn.

Trước áp lực đó, theo ông Lê Hữu Tịnh, Phó chủ tịch thường trực Hội đồng Quản trị Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đại Á (DaiABank), bên cạnh yêu cầu từng bước đầu tư cho khả năng cạnh tranh, quan trọng nhất và khó khăn nhất vẫn là phải xác định phân khúc phù hợp với chiến lược của mình.

Thưa ông, việc xác định phân khúc như vậy nên được hiểu như thế nào?

Như chúng ta thấy, khó khăn lớn nhất hiện nay trong hoạt động ngân hàng tại Việt Nam là sự cạnh tranh ngày càng gay gắt. Tiềm năng của thị trường thì vẫn còn rộng lớn bởi người dân hiện sử dụng dịch vụ ngân hàng chưa nhiều. Nhưng khó khăn nhất là xác định phân khúc khách hàng mà ngân hàng theo đuổi.

Hơn 40 ngân hàng đang hoạt động tại Việt Nam đều xác định mình là ngân hàng bán lẻ và sản phẩm dịch vụ cũng khá tương đồng. Vì vậy, cần xây dựng thương hiệu tốt, tạo ra nhiều điểm khác biệt, tạo nhiều xu thế mới, nắm bắt nhu cầu mới của khách hàng… thì sẽ chiếm lĩnh được thị trường.

Nhưng trước hết, quan điểm của chúng tôi là cần xác định phân khúc phù hợp, gắn với thế mạnh của mình để định hình chiến lược cho lâu dài, trước khi vươn mình mở rộng và cạnh tranh.

Tại DaiABank, thành lập từ năm 1993, nhưng phải đến năm 2007 mới chuyển đổi lên mô hình ngân hàng thương mại đô thị. Chúng tôi đã có một quá trình gắn bó với một mảng thị trường tương đối hẹp, nhưng chuyên sâu. Đó là phục vụ các khách hàng dân cư, các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Chính vì thế mà chúng tôi hiểu và gắn bó với phân khúc đó, có được những mối quan hệ, lượng khách hàng bền vững. Việc tăng cường đầu tư, phát triển sản phẩm và dịch vụ cũng gắn chặt với phân khúc nền tảng này, qua đó để từng bước mở rộng hoạt động.

Vậy có phải vì “giới hạn” của phân khúc đó khiến DaiABank có những bước đi chậm hơn so với một số thành viên khác cùng thời điểm chuyển đổi mô hình?

Đúng là chúng tôi có những bước đi chậm hơn. Có ý kiến cho đó là sự bỏ lỡ cơ hội. Bởi vì sau chuyển đổi, chúng tôi tiếp tục bám chặt và đầu tư cho phân khúc mình xác định, không mở rộng và tập trung nhiều cho những mảng thị trường hấp dẫn như cho vay đầu tư tài chính, bất động sản vốn sôi động trong những năm 2006, 2007 và cả những năm gần đây. Những mảng này dễ nhanh chóng tạo lượng khách hàng lớn, cho lợi nhuận cao, nhưng cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro. Thực tế, những rủi ro đó cũng đã và đang bộc lộ ở nhiều thành viên.

Tuy nhiên, ở những hướng phát triển khác, chúng tôi cũng đã có những bước đi khá nhanh. Vốn điều lệ từ 500 tỷ đồng hiện đã đạt là 3.100 tỷ đồng; sau khi tiếp cận hai địa bàn lớn là Tp.HCM và Hà Nội năm 2008 nay chúng tôi đã có hơn 60 chi nhánh và điểm giao dịch trên cả nước. Hệ thống công nghệ cũng đã mạnh hơn khi triển khai và ứng dụng thành công Core Banking (ngân hàng lõi) hiện đại góp phần tăng cường hiệu quả quản trị, dự báo và kiểm soát các hoạt động kinh doanh. Các sản phẩm, dịch vụ đã được đầu tư phát triển đều và đa dạng. Sự phát triển đó, cũng như định hướng cho tương lai, vẫn xoay quanh trục phân khúc đã lựa chọn.

Như vậy có thể hiểu quan điểm của DaiABank là có thể chậm nhưng chắc?

Cũng không hẳn thế, quan điểm của chúng tôi là xây dựng nền tảng thật vững chắc trước khi phát triển vì hoạt động ngân hàng tiềm ẩn nhiều rủi ro. Bên cạnh áp lực cạnh tranh, lợi nhuận thì yêu cầu đảm bảo an toàn và thanh khoản luôn thường trực. Suốt những năm khó khăn vừa qua và ngay cả hiện nay, hoạt động của DaiABank luôn an toàn, nợ xấu được kiểm soát ở mức thấp (hiện dưới 1%), thanh khoản luôn đảm bảo và chưa từng bị tai tiếng.

Trước hết chúng tôi đầu tư cho các giá trị nền tảng, xây dựng cơ sở khách hàng bền vững, xây dựng đội ngũ nhân lực và năng lực quản trị điều hành, tích lũy các thế mạnh về công nghệ để sẵn sàng cho những bứt phá. Có thể chậm trong giai đoạn vừa qua, nhưng để chắc và tạo tiền đề cho khả năng bứt phá trong những năm tới. Như năm nay, chỉ tiêu 500 tỷ đồng lợi nhuận đang dần hiện thực cũng là một bước tiến nhanh. Chúng tôi đặt mục tiêu trong 5 năm tới sẽ có mặt trong nhóm 20 ngân hàng bán lẻ hàng đầu của Việt Nam.

Ông nói gì về tính khả thi của mục tiêu đó và đâu là những cơ sở để đạt được?

Như đã nói, sự cạnh tranh hiện nay và trong thời gian tới là rất gay gắt. Mục tiêu đó là khó nhưng với DaiABank là khả thi. Điều quan trọng nhất vẫn là xác định đúng phân khúc để có những bước đi hợp lý.

Thế của DaiABank hiện có thể chưa lớn trên thị trường, nhưng chúng tôi tin ở những nguồn lực đã và đang tạo dựng. Một cơ thể khỏe mạnh, có hướng đi đúng, có sự quyết tâm và nỗ lực của các thành viên trong tập thể là những yếu tố cần thiết để đạt mục tiêu đề ra.

Tất nhiên, để cạnh tranh cần tạo được những khác biệt tốt hơn trong sản phẩm dịch vụ, và chúng tôi sẽ nỗ lực tạo được những khác biệt đó.
VnEconomy
-->Đọc thêm...
Đọc Thêm | nhận xét

TỪ ĐIỂN

 

 

Thống Kê Blog

CĐQTKD5A - ĐH TÂY ĐÔ

ĐỌC BÁO TRỰC TUYẾN




●THAH NIÊN

●PHỤ NỮ

●THỂ THAO

●CA.TPHCM

●BÓNG ĐÁ

●TUỔI TRẺ

●LAO ĐỘNG

●VIỆT

● VNEXPRESS

● BÁO MỚI

● LAO ĐỘNG

● DÂN TRÍ

● PHÁP LUẬT

● MỰC TÍM

● VN.NET

● Cám ơn các
bạn đã ghé
tham quan, chúc
các bạn và gia
đình luôn vui
vẻ, hạnh phúc
và đạt nhiều
thành công trong
cuộc sống

VÕ VĂN TÙNG
 
Support : Creating Website | Johny Template | Maskolis | Johny Portal | Johny Magazine | Johny News | Johny Demosite
Copyright © [2010-2013]. Võ Văn Tùng - Trường Đại Học Tây Đô.
Bản Quyền Thuộc Về CĐQTKD5A
Khi Đăng lại bài từ trang này vui lòng ghi rõ nguồn CĐQTKD5A.TK