THỜI TIẾT - THÔNG TIN CẦN BIẾT

--Tiên Đoán Tình Yêu--

Thống Kê

--Số Lượng Truy Cập--

Hiển thị các bài đăng có nhãn Nhận Định Chuyên Gia. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nhận Định Chuyên Gia. Hiển thị tất cả bài đăng

Giảm lãi suất VND là hợp lý

Chủ Nhật, 4 tháng 12, 2011

Giảm lãi suất VND sẽ tạo nhiều thuận lợi cho nền kinh tế - đó là nhận xét của PGS - TS Trần Hoàng Ngân - thành viên HĐ Tư vấn chính sách tài chính - tiền tệ quốc gia.

Theo ông Ngân, chỉ đạo của Chính phủ về việc giảm lãi suất VND là hợp lý, thực hiện càng sớm càng tốt. Ông Ngân nói:


- Trong báo cáo của Chính phủ trước Quốc hội có ghi: “Giảm dần lãi suất theo mức giảm của lạm phát, chủ động điều hành thực hiện lạm phát mục tiêu”. Thủ tướng cũng đã yêu cầu điều hành chính sách tiền tệ theo mục tiêu lạm phát năm 2012 dưới 10%. Chỉ số CPI trong những tháng gần đây cho thấy lạm phát đã được kiểm soát tốt hơn trước, thể hiện xu hướng tốc độ tăng giá giảm dần. Vì vậy, xu hướng điều hành lãi suất giảm là xu hướng tất yếu trong giai đoạn tới, còn giảm ở thời điểm nào là do NHNN lựa chọn và quyết định. Theo tôi, lãi suất giảm càng sớm càng tốt.   

Cụ thể, việc giảm lãi suất sẽ có lợi như thế nào, thưa ông?

- Việc giảm lãi suất sẽ tạo nên những hiệu ứng tốt cho nền kinh tế, trước hết là góp phần làm giảm lãi suất cho vay trong thời gian tới. Sau khi NHNN chỉ đạo thực hiện chặt chẽ quy định trần lãi suất đầu vào 14%, lãi suất đầu ra đã giảm xuống còn 17 - 18%, có những trường hợp giảm còn 16%, nhưng vẫn cần tiếp tục giảm sâu hơn.

Lãi suất giảm giúp cho DN tiếp cận nguồn vốn chi phí thấp, duy trì và mở rộng sản xuất kinh doanh, tạo công ăn việc làm cho người lao động... Lãi suất NH giảm còn giúp DN thuận lợi hơn trong việc phát hành CP trên thị trường CK, thúc đẩy tiến độ CP hóa DN nhà nước, tạo điều kiện cho thị trường CK phát triển. Việc thoái vốn đầu tư ngoài ngành của các DN cũng dễ dàng, thuận lợi hơn do tăng thanh khoản trên thị trường CK...

Trong đợt siết chặt lãi suất trần huy động còn 14% vừa qua có hiện tượng người dân rút tiền khỏi NH, gây khó khăn cho một số NH nhỏ. Lãi suất liên NH vì vậy tăng cao, có lúc vượt 30%. Người dân gửi tiền quen tính toán lãi suất thực dương. Theo ông, nếu lãi suất đầu vào tiếp tục hạ có gây khó khăn cho một số NH thương mại?

- Một chính sách mới ban hành bao giờ cũng có tác dụng phụ. Nghị quyết 11 của Chính phủ đã có những thành công bước đầu trong ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát, nhưng kèm theo đó là chính sách tiền tệ thắt chặt, lãi suất cao khiến cho nhiều DN thua lỗ, có đến 48.700 DN ngừng sản xuất hoặc phá sản.

Việc giảm lãi suất có thể kéo theo hiệu ứng là người dân rút bớt tiền khỏi NH, nhất là các NH nhỏ, yếu kém. Vì vậy, trước khi giảm lãi suất NHNN cần chuẩn bị chính sách hỗ trợ thanh khoản cho các NH nhỏ. Việc dân rút tiền khỏi NH không hẳn chỉ là xấu. Nếu một lượng tiền chuyển sang đầu tư CK hoặc tiêu dùng trong dịp tết, giúp các DN tiêu thụ được hàng hóa cũng là tốt.

Giảm lãi suất cũng sẽ tạo áp lực đối với thị trường ngoại tệ và NHNN cũng cần tăng cường kiểm soát, quản lý để tránh tình trạng căng thẳng USD, cụ thể là kiểm tra USD chợ đen, hạn chế cho vay bằng USD. Giá USD trên thị trường tiền tệ thế giới đang giảm, nếu so với VND, giá USD tăng sẽ làm cho lạm phát tăng.

 Về lãi suất thực dương, trong 4 tháng qua chỉ số CPI bình quân mỗi tháng dưới 1%, riêng trong tháng 11 chỉ có 0,39%. Nếu hạ lãi suất trần tiền gửi xuống 12% thì người gửi vẫn được lãi suất thực dương.

- Cảm ơn ông!

 Theo Lao Động
-->Đọc thêm...
Đọc Thêm | nhận xét

Thị trường chứng khoán đang như cơ thể yếu

Thứ Năm, 24 tháng 11, 2011


Ông Vũ Bằng: “Thị trường chứng khoán đang rất cần sự hỗ trợ từ ngân hàng”.

Thị trường chứng khoán (TTCK) liên tục suy giảm do tác động những bất ổn từ kinh tế thế giới, khó khăn của kinh tế trong nước. Tâm lý nhà đầu tư, doanh nghiệp niêm yết và các công ty chứng khoán rơi vào bi quan. Liệu cơ quan quản lý có cách gì để cải thiện tình hình?

Hôm qua (16-11), Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) Vũ Bằng chia sẻ với báo chí. 

Mong được ngân hàng hỗ trợ

Ông Bằng cho biết: Thời gian qua TTCK gặp khó khăn. TTCK các nước, khu vực đều có sự sụt giảm. Hầu hết chỉ số thị trường chính đều giảm (ngoại trừ Down Jone) như: châu Âu, châu Á, Hồng Kông, Nhật Bản đều giảm dao động 12-19% so với cuối năm 2010. Riêng các nước gặp khủng hoảng nợ sụt giảm 30-40%.

Ở trong nước, từ đầu năm tới nay, VN-Index giảm khoảng 16%. Kinh tế trong nước tác động khiến cho các doanh nghiệp niêm yết khó khăn, có đến 60% công ty lợi nhuận sụt giảm, giá cổ phiếu giảm còn 40-50% so với năm 2010, hiện có 71/105 công ty chứng khoán lỗ luỹ kế (tổng lỗ khoảng 2.000 tỷ), hoạt động huy động vốn gặp nhiều khó khăn, thành công chào bán cổ phiếu giảm mạnh.

Về chỉ số Index, năm 2008 thị trường cũng bị sức ép mạnh về tâm lý khốc liệt khi từ đỉnh 1.200 điểm giảm sâu xuống ngưỡng dưới 300 điểm; còn năm nay dù tính ra mức suy giảm của VN- Index mới vào khoảng 16% nhưng do thị trường đang như một cơ thể yếu nên sức chịu đựng lần này kém hơn. Nói chung, thị trường xuống bởi những tác động từ chính sách vĩ mô là chính.

Một trong những lý do khiến TTCK suy giảm đó là tác động từ thắt chặt tín dụng, hạn chế cung tiền?

Theo tôi, không nên ép phi sản xuất vào bất động sản vì bản thân thị trường bất động sản vẫn có những giá trị riêng. Hiện tình hình nhiều doanh nghiệp niêm yết trong đó có bất động sản rất bi quan, 70% dưới giá trị sổ sách, phát hành cổ phiếu từ đầu năm tới nay suy giảm, doanh nghiệp không tiếp cận được vốn. Trong khi đó tái cấu trúc ngân hàng thì sẽ phải huy động vốn mà chứng khoán xuống thì càng không thể huy động được vốn. Nói chung, dưới góc độ thị trường, chúng tôi mong ngân hàng sẽ hỗ trợ. 

Phải giảm số công ty chứng khoán

Hiện dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài vào Việt Nam qua chứng khoán ra sao, thưa ông?

Dòng vốn gián tiếp vào TTCK năm 2010 khá, khoảng 1 tỷ USD ròng. Từ đầu năm đến nay có lúc vào khoảng 500 triệu USD, nhưng tháng 9, 10 có điều chỉnh, tính chung từ đầu năm đến nay vẫn dương. Nhìn chung, dòng vốn gián tiếp vào Việt Nam tùy thuộc vào kinh tế vĩ mô vì đây vẫn là yếu tố được cân nhắc, do có tính rủi ro.

Trong quá trình làm việc vừa qua, các tổ chức quốc tế rất quan tâm đến việc cho phép thành lập quỹ mở, hiện họ đã chuẩn bị lực lượng. Quỹ mở nếu được ban hành sẽ có thuận lợi là nhiều quỹ đóng (bị hạn chế bởi những người tham gia quỹ ban đầu-PV) đã đến hạn sẽ chuyển sang ngay, như vậy sẽ không tạo ra sức ép rút vốn với thị trường.

Với quá nhiều khó khăn đang phải đối mặt và trong năm 2012 sắp tới, Bộ Tài chính và UBCK sẽ có những giải pháp gì?

Khi thực hiện tái cấu trúc nền kinh tế, là cơ hội cho TTCK phát triển. Tái cấu trúc đầu tiên là giảm đầu tư công, do đó phải thúc đẩy đầu tư tư nhân. Đầu tư tư thì phải có vai trò của TTCK. Để tái cơ cấu DNNN thì phải thúc đẩy cổ phần hóa và mục tiêu này cũng phải dựa vào TTCK.

Để thúc đẩy sự phát triển lành mạnh, minh bạch của TTCK, UBCK sẽ cùng Bộ Tài chính triển khai các giải pháp như: dự thảo Chỉ thị của Thủ tướng về thúc đẩy hoạt động và tăng cường quản lý TTCK; đề án quản lý vốn gián tiếp; xây dựng hệ thống chỉ số mới; xây dựng đề án thành lập tổ chức xếp hạng định mức tín nhiệm...

Về khung pháp lý sẽ hoàn tất Nghị đinh xử phạt hành chính, Xây dựng hướng dẫn về thu lời bất chính để tăng mức xử phạt; Phối hợp với Bộ Công an xây dựng văn bản hướng dẫn xử lý hình sự các tội phạm trên TTCK. Các giải pháp này sẽ được trình, ban hành từ nay đến cuối năm và năm 2012.

Thế còn việc tái cơ cấu các công ty chứng khoán thì sao, thưa ông?

Việc tái cơ cấu các CTCK sẽ diễn ra sớm, có thể vào quý II-2012. Tới đây, chúng tôi sẽ làm việc với NHNN về phối hợp các giải pháp đối với TTCK như vấn đề tín dụng, hệ thống thanh toán, tái cấu trúc các CTCK khoán trực thuộc ngân hàng.

Việc tái cơ cấu sẽ không chỉ với những công ty yếu kém mà cả những công ty khoẻ cũng làm theo chuẩn và thông lệ quốc tế. Số lượng 105 CTCK đang hoạt động trên TTCK Việt Nam đúng là nhiều quá, chúng ta sẽ phải giảm xuống. Quan điểm của UBCK là sẽ xử lý căn cứ vào các tiêu chuẩn về tài chính, chứ không phải chỉ là CTCK lớn hay nhỏ.

Cảm ơn ông.
Tiền Phong
-->Đọc thêm...
Đọc Thêm | nhận xét

Doanh nghiệp đuối sức


Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp vừa và nhỏ Cao Sỹ Kiêm trao đổi về sức khỏe của doanh nghiệp.

Cập nhật đến cuối năm nay, ông thấy sức khỏe doanh nghiệp nhỏ và vừa như thế nào?

Ông Cao Sỹ Kiêm: Càng về cuối năm, doanh nghiệp nhỏ và vừa đã khó càng khó hơn. Sản xuất của nhiều doanh nghiệp đã bị đình trệ.

Lãi suất cho vay hiện nay nói là còn 17-19%, nhưng tiếp cận rất khó. Mức lãi suất đó nói là tập trung vào ba đối tượng là sản xuất hàng xuất khẩu, nông nghiệp nông thôn và doanh nghiệp nhỏ và vừa, nhưng chủ yếu là vào xuất khẩu chứ hai loại hình sau không được. Hơn nữa, mức lãi suất 17-19% hiện nay không phải là giá vốn tốt, cộng với chi phí đầu vào tăng lên nên doanh nghiệp gặp khó là điều dễ hiểu. Trong bối cảnh chung như thế, các doanh nghiệp nhỏ và vừa càng đuối sức hơn.

Hồi tháng 7 vừa rồi, Hiệp hội Doanh nghiệp vừa và nhỏ đưa ra báo cáo là 20% doanh nghiệp phá sản trong sáu tháng đầu năm. Đến nay ông có số liệu cập nhật không?

Bây giờ khó khăn hơn nhiều. Có nơi nói 40%, có nơi nói 50%, nhưng nói chung đến nay số doanh nghiệp phá sản, biến mất khỏi thị trường đã gấp đôi con số của tháng 7 rồi. Nếu kéo dài 5-6 tháng nữa thì tình hình sẽ trầm trọng thêm. Số phá sản, đình trệ sản xuất sẽ tăng lên rất nhanh.

Trong cuộc gặp với các doanh nhân gần đây thì ông nhận thấy tinh thần chung của họ như thế nào?

Tinh thần của doanh nghiệp hiện nay đang ở mức thấp nhất trong bốn năm nay. Họ thấy bế tắc, không rõ lối ra.

Tôi thấy họ có ba khuynh hướng. Một là đóng của chờ thời. Hai là chấp nhận khó khăn, chuyển hướng sản xuất. Thứ ba, tự động sáp nhập, giải thể.

Ông giải thích thế nào về giá trị sản xuất công nghiệp, xuất khẩu, rồi thậm chí cả GDP nữa vẫn tăng cao, trái với tình hình như ông vừa nói?

Giá trị sản xuất công nghiệp gia tăng là do lạm phát tăng. Trước đây sản phẩm bán giá 1 đồng, nay bán đồng rưỡi, tưởng là tăng lên, nhưng sự thật thì khác. Còn xuất khẩu tăng là do giá lương thực thực phẩm thế giới tăng. Đây là mặt hàng Việt Nam có lợi thế. Xuất khẩu tăng không đều ở các ngành hàng khác.
Còn các doanh nghiệp sản xuất để tiêu thụ nội địa thì đang có tình trạng sản xuất đình đốn như tôi vừa nói.

Về cá nhân, ông có chứng kiến những doanh nghiệp quen biết co hẹp sản xuất hay phá sản chưa?

Nhiều lắm chứ, ai cũng thế thôi. Anh nên đi thực tế mà xem, chỗ nào cũng có tình trạng đó. Mà không chỉ doanh nghiệp nhỏ và vừa khó khăn, các doanh nghiệp bất động sản, chứng khoán, ngân hàng cũng khó. Tới mấy trăm ngàn tỉ đồng đầu tư vào bất động sản mà giờ đắp chiếu thì làm sao bảo là tình hình ổn định, không có vấn đề gì được. Hiện nay, Chính phủ đã nhận thức rõ những thách thức này rồi.

Ông có quá bi quan không, khi mà vẫn có nhiều ý kiến cho là tình hình vẫn tốt với các chỉ số vừa được công bố?

Ai mà nhận xét tình hình tốt lên là không chuẩn xác. Có rất nhiều biểu hiện khó khăn rõ ràng. Chẳng hạn nói là tăng trưởng tín dụng 15%, nhưng bao nhiêu vào được sản xuất kinh doanh? Rất ít, vốn chỉ loanh quanh trong ngân hàng với nhau thôi.

Còn về số hơn 49.000 doanh nghiệp giải thể hoặc ngừng hoạt động trong 10 tháng đầu năm, mà Bộ Kế hoạch và Đầu tư báo cáo Quốc hội, tôi cho là chưa sát thực tế, phải lớn hơn, chứ không phải vậy. Tôi cho rằng năm 2012 sẽ còn tiếp tục khó khăn.
Theo Tư Giang - TBKTSG
-->Đọc thêm...
Đọc Thêm | nhận xét

Kiểm soát lạm phát: Không chỉ là mệnh lệnh hành chính!



TS Nguyễn Minh Phong, Viện Nghiên cứu phát triển kinh tế - xã hội Hà Nội đã có cuộc trao đổi với Đại Đoàn Kết về việc thực hiện, kiểm soát mục tiêu lạm phát từ 2 con số xuống 1 con số trong năm 2012 theo nghị quyết của Quốc hội.

Thưa ông, Quốc hội đề ra mục tiêu, điều chỉnh chỉ tiêu lạm phát năm 2012 xuống một con số, ông đánh giá thế nào về tính khả thi của mục tiêu trên?
Việc hạ chỉ tiêu lạm phát từ 2 con số xuống còn 1 con số là hết sức cấp thiết đối với nền kinh tế. Nếu lạm phát vẫn cao thì doanh nghiệp tiếp tục "chết”, người dân cũng không thể chịu nổi sức ép về lương và giá. Ngoài ra, nếu so sánh với thế giới, lạm phát các nước chỉ dừng ở mấy phần trăm. Do vậy, tất yếu hay không, việc hạ chỉ số lạm phát là điều phải làm

Còn tính khả thi? Nếu nói về nghĩa tuyệt đối thì chắc chắn được. Nhưng phải xét rằng, kiểm soát lạm phát còn phụ thuộc vào nhiều mục tiêu. Nếu hài hòa được các mục tiêu đặt ra, lúc đó độ khả thi về cơ bản được 60 – 70%.

Năm tới, nền kinh tế cũng không còn áp lực về cú sốc ngoại lạm phát nữa. Từ năm sau trở đi nếu theo đúng quy trình thì lạm phát sẽ ít có cơ hội cao nữa. Năm 2011, trong 2 quý đầu năm, chúng ta chịu sự dồn nén của tỷ giá. Năm 2012 không còn cơ hội này nữa. Thứ 2, là xu hướng lạm phát đang giảm, điều này gắn với việc cân đối lương thực thực phẩm của chúng ta tốt hơn. Lạm phát giờ chịu ảnh hưởng của yếu tố tiền tệ là lớn nhất. Do số tiền tồn đọng trong xã hội hiện nay là rất lớn. Vừa rồi, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tài chính đều có động thái mạnh trong kiểm soát tiền tệ. Dư chấn tiền tệ hi vọng sẽ tác động không nhiều vào lạm phát trong thời gian tới nữa.

Thêm vào đó, các căn nguyên của lạm phát sẽ phải xem xét, loại bỏ dần.

Nhưng vẫn còn một sức ép cơ bản ảnh hưởng tới CPI là việc tăng giá theo lộ trình các mặt hàng độc quyền: điện, than, nước...?

Đúng vậy, nếu không kiểm soát các mặt hàng độc quyền thì sẽ không thể kiểm soát được lạm phát. Tuy nhiên, chúng ta có thể hi vọng về tính minh bạch của các mặt hàng này. Việc tăng giá, hướng tới giá thị trường đã được đặt ra và các cơ quan quản lý đều khẳng định: phải chọn thời điểm và tính toán hợp lý. Thông tin về giá, cấu thành giá đối với điện, nước, xăng dầu cũng ngày càng yêu cầu cao. Sẽ không có chuyện tăng giá vô điều kiện.

Theo các chuyên gia, năm nào Chính phủ cũng đề ra những nhóm giải pháp toàn diện, nhưng việc thực hiện lại không nhất quán, khiến cho việc kiểm soát lạm phát không hề dễ. Trong 11 tháng của năm 2011 chúng ta đã 2 lần phải thay đổi chỉ tiêu lạm phát. Chính phủ nên thay đổi như thế nào?

Điều chỉnh chỉ tiêu lạm phát là điều đương nhiên, vì chúng ta đang có sự tách rời giữa dự báo kinh tế khoa học và ý chí chính trị. Thường thì mục tiêu bao giờ cũng tốt hơn thực tế. Hơn nữa do khách quan, tình hình về kinh tế - xã hội biến đổi rất nhanh. Nhiều khi giá hàng buổi sáng đã khác giá hàng buổi tối rồi. Giá ở miền núi lại khác giá đồng bằng. Chúng ta phải chấp nhận thay đổi chỉ tiêu nhưng chỉ trong giới hạn có thể.

Kiểm soát lạm phát phải đồng bộ. Ví dụ như siết đầu tư công phải tính chính xác cắt giảm ở đâu? Kiểm soát giá thị trường hay công tác bình ổn thị trường cũng cần tiến hành hiệu quả, thiết thực hơn...

Các cơ quan quản lý cho rằng, thời gian qua, việc biến động về vàng, chứng khoán cũng là nguyên nhân làm xáo trộn thị trường tiền tệ, ảnh hưởng mạnh tới lạm phát. Các nhà quản lý đang hướng tới việc hạn chế dần đối tượng vào sân chơi vàng và chứng khoán. Theo ông liệu việc quản lý như thế này có bền vững không?

Nhiều dự thảo về quản lý vàng, quản lý thị trường chứng khoán đã được đề cập trong thời gian gần đây. Nhưng việc hạn chế bớt đối tượng sản xuất và cung cấp vàng miếng trước mắt sẽ gây nguy cơ từ độc quyền nhà nước chuyển thành độc quyền doanh nghiệp. Thiếu hẳn cơ chế để kiểm soát độc quyền. NHNN chỉ đưa ra tiêu chuẩn hóa lọc bớt đối tượng vào sân chơi, còn không đưa ra công cụ kiểm soát độc quyền. Tôi nghĩ, trước đây có 7 doanh nghiệp được vào sân chơi sản xuất và cung ứng vàng thì giờ chỉ còn 1 và doanh nghiệp này lại là doanh nghiệp tư nhân; tại sao không để 1 tổ chức phi lợi nhuận được độc quyền trong sản xuất, cung ứng vàng miếng?

Quản lý thị trường chứng khoán, vàng mà đơn thuần dừng ở giải pháp hành chính là điều không thể được.

Vâng, xin cảm ơn ông!
-->Đọc thêm...
Đọc Thêm | nhận xét

Cạnh tranh ngân hàng: “Khó khăn nhất là xác định phân khúc”

Thị trường còn nhiều tiềm năng, nhưng cạnh tranh ngày một khốc liệt. Khó khăn nhất trong hoạt động ngân hàng tại Việt Nam là xác định phân khúc phù hợp với chiến lược của mỗi thành viên.

Việt Nam hiện có 42 ngân hàng thương mại. Trong đó, nhiều thành viên có bề dày truyền thống gắn với đặc thù của mình trong hoạt động. Như Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Agribank) có thế mạnh trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn; Ngân hàng Đầu tư và Phát triển (BIDV) có thế mạnh trong tài trợ các dự án phát triển hạ tầng; Ngân hàng Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) có thế mạnh về tài trợ xuất nhập khẩu và thanh toán quốc tế; Ngân hàng Á châu (ACB), Ngân hàng Kỹ thương (Techcombank), Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín (Sacombank)… nổi bật trong lĩnh vực ngân hàng bán lẻ…

Với khoảng chục ngân hàng thương mại cổ phần vừa chuyển đổi từ nông thôn lên đô thị, việc “chen chân” vào những mảng thị trường, những phân khúc đã định hình những thế mạnh đó, áp lực cạnh tranh càng lớn.

Trước áp lực đó, theo ông Lê Hữu Tịnh, Phó chủ tịch thường trực Hội đồng Quản trị Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đại Á (DaiABank), bên cạnh yêu cầu từng bước đầu tư cho khả năng cạnh tranh, quan trọng nhất và khó khăn nhất vẫn là phải xác định phân khúc phù hợp với chiến lược của mình.

Thưa ông, việc xác định phân khúc như vậy nên được hiểu như thế nào?

Như chúng ta thấy, khó khăn lớn nhất hiện nay trong hoạt động ngân hàng tại Việt Nam là sự cạnh tranh ngày càng gay gắt. Tiềm năng của thị trường thì vẫn còn rộng lớn bởi người dân hiện sử dụng dịch vụ ngân hàng chưa nhiều. Nhưng khó khăn nhất là xác định phân khúc khách hàng mà ngân hàng theo đuổi.

Hơn 40 ngân hàng đang hoạt động tại Việt Nam đều xác định mình là ngân hàng bán lẻ và sản phẩm dịch vụ cũng khá tương đồng. Vì vậy, cần xây dựng thương hiệu tốt, tạo ra nhiều điểm khác biệt, tạo nhiều xu thế mới, nắm bắt nhu cầu mới của khách hàng… thì sẽ chiếm lĩnh được thị trường.

Nhưng trước hết, quan điểm của chúng tôi là cần xác định phân khúc phù hợp, gắn với thế mạnh của mình để định hình chiến lược cho lâu dài, trước khi vươn mình mở rộng và cạnh tranh.

Tại DaiABank, thành lập từ năm 1993, nhưng phải đến năm 2007 mới chuyển đổi lên mô hình ngân hàng thương mại đô thị. Chúng tôi đã có một quá trình gắn bó với một mảng thị trường tương đối hẹp, nhưng chuyên sâu. Đó là phục vụ các khách hàng dân cư, các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Chính vì thế mà chúng tôi hiểu và gắn bó với phân khúc đó, có được những mối quan hệ, lượng khách hàng bền vững. Việc tăng cường đầu tư, phát triển sản phẩm và dịch vụ cũng gắn chặt với phân khúc nền tảng này, qua đó để từng bước mở rộng hoạt động.

Vậy có phải vì “giới hạn” của phân khúc đó khiến DaiABank có những bước đi chậm hơn so với một số thành viên khác cùng thời điểm chuyển đổi mô hình?

Đúng là chúng tôi có những bước đi chậm hơn. Có ý kiến cho đó là sự bỏ lỡ cơ hội. Bởi vì sau chuyển đổi, chúng tôi tiếp tục bám chặt và đầu tư cho phân khúc mình xác định, không mở rộng và tập trung nhiều cho những mảng thị trường hấp dẫn như cho vay đầu tư tài chính, bất động sản vốn sôi động trong những năm 2006, 2007 và cả những năm gần đây. Những mảng này dễ nhanh chóng tạo lượng khách hàng lớn, cho lợi nhuận cao, nhưng cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro. Thực tế, những rủi ro đó cũng đã và đang bộc lộ ở nhiều thành viên.

Tuy nhiên, ở những hướng phát triển khác, chúng tôi cũng đã có những bước đi khá nhanh. Vốn điều lệ từ 500 tỷ đồng hiện đã đạt là 3.100 tỷ đồng; sau khi tiếp cận hai địa bàn lớn là Tp.HCM và Hà Nội năm 2008 nay chúng tôi đã có hơn 60 chi nhánh và điểm giao dịch trên cả nước. Hệ thống công nghệ cũng đã mạnh hơn khi triển khai và ứng dụng thành công Core Banking (ngân hàng lõi) hiện đại góp phần tăng cường hiệu quả quản trị, dự báo và kiểm soát các hoạt động kinh doanh. Các sản phẩm, dịch vụ đã được đầu tư phát triển đều và đa dạng. Sự phát triển đó, cũng như định hướng cho tương lai, vẫn xoay quanh trục phân khúc đã lựa chọn.

Như vậy có thể hiểu quan điểm của DaiABank là có thể chậm nhưng chắc?

Cũng không hẳn thế, quan điểm của chúng tôi là xây dựng nền tảng thật vững chắc trước khi phát triển vì hoạt động ngân hàng tiềm ẩn nhiều rủi ro. Bên cạnh áp lực cạnh tranh, lợi nhuận thì yêu cầu đảm bảo an toàn và thanh khoản luôn thường trực. Suốt những năm khó khăn vừa qua và ngay cả hiện nay, hoạt động của DaiABank luôn an toàn, nợ xấu được kiểm soát ở mức thấp (hiện dưới 1%), thanh khoản luôn đảm bảo và chưa từng bị tai tiếng.

Trước hết chúng tôi đầu tư cho các giá trị nền tảng, xây dựng cơ sở khách hàng bền vững, xây dựng đội ngũ nhân lực và năng lực quản trị điều hành, tích lũy các thế mạnh về công nghệ để sẵn sàng cho những bứt phá. Có thể chậm trong giai đoạn vừa qua, nhưng để chắc và tạo tiền đề cho khả năng bứt phá trong những năm tới. Như năm nay, chỉ tiêu 500 tỷ đồng lợi nhuận đang dần hiện thực cũng là một bước tiến nhanh. Chúng tôi đặt mục tiêu trong 5 năm tới sẽ có mặt trong nhóm 20 ngân hàng bán lẻ hàng đầu của Việt Nam.

Ông nói gì về tính khả thi của mục tiêu đó và đâu là những cơ sở để đạt được?

Như đã nói, sự cạnh tranh hiện nay và trong thời gian tới là rất gay gắt. Mục tiêu đó là khó nhưng với DaiABank là khả thi. Điều quan trọng nhất vẫn là xác định đúng phân khúc để có những bước đi hợp lý.

Thế của DaiABank hiện có thể chưa lớn trên thị trường, nhưng chúng tôi tin ở những nguồn lực đã và đang tạo dựng. Một cơ thể khỏe mạnh, có hướng đi đúng, có sự quyết tâm và nỗ lực của các thành viên trong tập thể là những yếu tố cần thiết để đạt mục tiêu đề ra.

Tất nhiên, để cạnh tranh cần tạo được những khác biệt tốt hơn trong sản phẩm dịch vụ, và chúng tôi sẽ nỗ lực tạo được những khác biệt đó.
VnEconomy
-->Đọc thêm...
Đọc Thêm | nhận xét

Ưu tiên cho vay lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn và một số đối tượng khác

Lĩnh vực nông nghiệp nông thôn là lĩnh vực ưu tiên hàng đầu trong chính sách tín dụng của NHNN năm 2012. Đó là khẳng định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) Nguyễn Văn Bình trong cuộc trả lời phỏng vấn báo chí ngày 21/11/2011.


PV: Thưa ông, xin ông cho biết việc điều hành chính sách tín dụng của NHNN trong những tháng cuối năm 2011?

Thống đốc NHNN: Chỉ còn hơn 1 tháng nữa là kết thúc năm 2011,
trong thời gian này, NHNN cũng như hệ thống các tổ chức tín dụng 


(TCTD) sẽ tiếp tục có những hoạt động hết sức tích cực để góp phần vào việc tăng trưởng kinh tế, không chỉ của năm nay mà còn tạo đà cho phát triển kinh tế năm 2012. Đến thời điểm này, tăng trưởng tín dụng của toàn hệ thống khoảng trên 10% so với cuối năm 2010; phấn đấu tăng trưởng tín dụng cả năm 2011 của toàn hệ thống khoảng 12% - 13%. Nếu kể cả những khoản đầu tư có bản chất tín dụng khác thì tăng trưởng tín dụng của hệ thống TCTD đến 31/12/2011 sẽ đạt khoảng 15%.

PV: Thưa Thống đốc, vậy là năm nay, tăng trưởng tín dụng sẽ ở mức thấp hơn so với mức dự kiến đã đề ra là 20%. Vậy dự kiến trong năm 2012 tới đây, NHNN sẽ điều hành chính sách tăng trưởng tín dụng như thế nào và lĩnh vực nào sẽ được ưu tiên khuyến khích cho vay cũng như lĩnh vực nào sẽ bị hạn chế cho vay?

Thống đốc NHNN: Gần đây, Quốc hội đã thông qua các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội của năm 2012. Theo đó, tăng trưởng tín dụng của hệ thống ngân hàng sẽ ở mức từ 15 – 17%. NHNN sẽ điều hành các TCTD đạt được các mục tiêu đó, vừa góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, tiếp tục kiềm chế lạm phát trong những năm tiếp theo nhưng đồng thời cũng phải đảm bảo được sự phát triển của nền kinh tế, phục vụ cho việc tăng trưởng kinh tế khoảng từ 6 – 6,5%. Trong năm 2012, NHNN xác định những lĩnh vực được ưu tiên cho vay hàng đầu bao gồm: Thứ nhất, phát triển nông nghiệp và nông thôn; đặc biệt là khôi phục lại hoạt động sản xuất ở các vùng vừa bị thiên tai, bão lụt thời gian vừa qua; Thứ hai là tập trung cho việc sản xuất hàng xuất khẩu; Thứ ba là phục vụ cho công nghiệp phụ trợ; Thứ tư là cho vay các doanh nghiệp vừa và nhỏ, đặc biệt là đảm bảo nguồn vốn lưu động cho loại hình doanh nghiệp này. Bên cạnh đó, NHNN cũng sẽ có quy định cụ thể hơn trong vấn đề cho vay đối với lĩnh vực phi sản xuất và các lĩnh vực không khuyến khích, xem xét lại nhu cầu vốn cho mua nhà ở của những người dân có thu nhập trung bình, thu nhập thấp cũng như vay vốn để xây dựng các nhà an sinh xã hội cho những người có thu nhập trung bình và thấp ở thành thị cũng như ở các khu công nghiệp. Đó là những lĩnh vực mà NHNN cũng như toàn bộ hệ thống ngân hàng chú trọng quan tâm trong phát triển tín dụng trong năm tới.

PV: Cho vay lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn thường chi phí cao và món vay lại nhỏ. Vậy NHNN có những chính sách nào để khuyến khích các ngân hàng cũng như là hỗ trợ cho các ngân hàng thực hiện các chính sách tín dụng hỗ trợ này?

Thống đốc NHNN: Trên thực tế, có thể khẳng định rằng, những lĩnh vực mà tôi vừa mới liệt kê là những lĩnh vực không phải có rủi ro cao mà những lĩnh vực đó đòi hỏi chi phí của hoạt động ngân hàng cao hơn vì đây thường là các khoản vay nhỏ lẻ và cán bộ ngân hàng phải đi đến tận các thôn xã của bà con nông dân. Do vậy, vừa qua một số ngân hàng thương mại chưa quan tâm đúng mức đến lĩnh vực này. Nhưng qua thực tế trong vòng hai năm vừa qua, có thể khẳng định, cho vay trong các lĩnh vực này là những lĩnh vực rủi ro thấp nhất, lại luôn đảm bảo được sự ổn định. Để giúp hệ thống ngân hàng có thể giảm lãi suất cho vay trong lĩnh vực này, một mặt các ngân hàng thương mại phải tính toán dành vốn và chi phí nghiệp vụ thoả đáng cho mục tiêu này để hạ dần lãi suất cho vay, một mặt NHNN sẽ có những chính sách phù hợp, ví dụ như đối với các ngân hàng hoạt động tích cực, có dư nợ lớn ở lĩnh vực nông nghiệp nông thôn và các đối tượng cần hỗ trợ, NHNN có thể có ưu tiên về mức dự trữ bắt buộc, hoặc sẽ dành một phần tiền cung ứng cho  tái cấp vốn để các TCTD cho vay nông nghiệp và phát triển nông thôn.

Bên cạnh đó, cho vay tín dụng nông thôn của năm tới không những để đáp ứng được nhu cầu sản xuất kinh doanh bình thường như trong thời gian qua của nông nghiệp và nông thôn mà còn hướng tới xây dựng các cơ sở chế biến lúa gạo, nông thổ sản, hải sản. Chúng tôi cũng sẽ chú trọng tạo ra hệ thống kho vận một cách hợp lý để mục tiêu cuối cùng là nâng cao giá trị gia tăng cao của sản phẩm nông nghiệp. Đặc biệt là, chúng ta đang có chương trình xây dựng nông nghiệp và nông thôn mới, hướng đến nâng cao quá trình cơ giới hoá cũng như áp dụng công nghệ cao vào nông nghiệp và nông thôn. Do vậy, hoạt động tín dụng của ngân hàng cũng hướng vào những lĩnh vực đó để giúp cho bà con nông dân không những phát triển được sản xuất kinh doanh thông thường mà còn có thể nâng cao được năng suất trong thời gian tới.

NHNN sẽ lấy Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn làm trụ cột, đồng thời giao nhiệm vụ cho Ngân hàng này phải có dư nợ tín dụng trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn của năm 2012 chiếm từ 75 – 80% tổng dư nợ. NHNN cũng khuyến khích tất cả các ngân hàng khác tập trung đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn; quy định tất cả các TCTD khác ít nhất phải có dư nợ tương ứng với khoảng 20% tổng dư nợ của mình để phục vụ cho lĩnh vực nông nghiệp nông thôn. Những TCTD nào không có điều kiện đầu tư ở lĩnh vực nông nghiệp nông thôn thì có thể chuyển số vốn tương ứng về cho Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn để cho vay lĩnh vực nông nghiệp nông thôn.

PV: Mặt bằng lãi suất huy động VND đã được đưa về mức 14%, trong khi đó, lãi suất cho vay là 17%. Vậy theo ông, có nên giảm tiếp lãi suất cho vay không? Nếu có thì dự kiến các biện pháp như thế nào?

Thống đốc NHNN: Trong năm 2011, nước ta đã có những nỗ lực hết sức to lớn. Về vĩ mô, chúng ta đã kiểm soát được lạm phát. Bắt đầu từ tháng 8 trở lại đây, lạm phát có chiều hướng đi xuống. Đó là những dấu hiệu hết sức  tích cực. Tuy nhiên, cũng phải khẳng định rằng, lạm phát của Việt Nam vẫn đang còn ở mức độ khá cao. Từ nay đến cuối năm, nước ta phấn đấu để giữ lạm phát ở khoảng 18 – 18,5%. Do vậy, trong thời gian từ tháng 8 trở lại đây, NHNN đã chỉ đạo các ngân hàng thương mại đã hết sức tích cực để đưa được lãi suất huy động đồng loạt ở mức không quá 14% và lãi suất cho vay ở mức 16 - 17%, hoặc 18% là phổ biến.

Việc tiếp tục giảm lãi suất là một nhu cầu tất yếu của nền kinh tế, nhưng phải được tiến hành  trong bối cảnh kiểm soát được tốc độ tăng lạm phát. Với những dấu hiệu giảm lạm phát trong những tháng vừa qua và hy vọng rằng hai tháng cuối năm 2011, chỉ số giá cả cũng sẽ giữ ở mức thấp, dưới 1% 1 tháng, sẽ tạo cơ sở vững chắc cho hệ thống ngân hàng tiếp tục giảm lãi suất vào khoảng cuối năm nay để tạo thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh vào đầu năm sau.
PV: Xin cảm ơn Thống đốc

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
-->Đọc thêm...
Đọc Thêm | nhận xét

“Doanh nghiệp bất động sản phải chấp nhận hy sinh”


Nhiều doanh nghiệp cho rằng động thái nới tín dụng bất động sản mới đây của Ngân hàng Nhà nước chỉ như "món quà tinh thần".

Xung quanh vấn đề này, VnEconomy đã trao đổi với TS. Cao Sỹ Kiêm, thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tiền tệ Quốc gia, nguyên Thống đốc Ngân hàng Nhà nước.

Ông nhìn nhận thế nào về văn bản của Ngân hàng Nhà nước vừa qua về chủ trương nới tín dụng cho 4 nhóm bất động sản?

Đó là quyết định rất cần thiết trong bối cảnh thị trường hiện nay, đồng thời cũng là hoạt động bình thường trong nghiệp vụ cho vay của ngân hàng. Tất nhiên, với khá nhiều điều kiện ràng buộc như vậy thì việc “thả” ra như thế thì cũng chỉ góp phần tạo điều kiện cho một bộ phận người dân có nhu cầu cấp thiết trong mua bán, sửa chữa nhà cửa. 

Còn nói để giải quyết, khơi thông cho thị trường bất động sản thì chính sách đó cũng không có nhiều tác dụng vì số lượng rất thấp, đối tượng lại khá hẹp.

Với khá nhiều điều kiện ràng buộc như vậy, có những ý kiến cho rằng, đó là động thái nới “nửa vời” của Ngân hàng Nhà nước?

Tôi cho rằng không phải là nới nửa vời đâu, vì Ngân hàng Nhà nước sợ lượng tiền tung ra lớn cũng khó kiểm soát, tạo áp lực lên lạm phát. Bên cạnh đó, thanh khoản của ngân hàng thực tế hiện nay cũng rất khó khăn, sức chỉ đến thế thôi.

Nhưng cũng không loại trừ việc Ngân hàng Nhà nước “bật đèn xanh” cho các ngân hàng thương mại hợp thức hóa dư nợ phi sản xuất về mốc 16% vào cuối năm?

Có những doanh nghiệp bất động sản cho rằng, nếu họ “sắp chết” mà không cứu thì sẽ ảnh hưởng đến cả nền kinh tế?

Đó cũng là một vấn đề, nhưng muốn giải quyết cho mỗi ngân hàng hay doanh nghiệp thì không được. Chính sách cũng phải hướng đến người dân, phải hài hòa các lợi ích chung.

Bất động sản không còn cách nào khác là phải trở về giá trị thực. Thị trường hiện gần như đang bong bóng, nếu mình bơm thêm vốn thì chắc chắn sẽ bục ngay.

Các doanh nghiệp bất động sản phải chấp nhận thôi, vì nếu bơm thêm vốn sẽ lôi kéo cả thị trường theo một ảo tưởng mới. Chủ doanh nghiệp bất động sản từng là những người giàu nhất nước, là những doanh nghiệp siêu lợi nhuận, lại được ngân hàng ưu ái, nên giờ giảm giá thì cũng chỉ là chia sẻ lợi nhuận mà thôi.

Giá đang lơ lửng ở trên cao mà phải bắt người dân theo anh thì không thể chấp nhận được. 

Tuy nhiên, những doanh nghiệp nào làm ăn đứng đắn thì có thể xem xét. Còn lại, phải chấp nhận "hy sinh". Quan điểm của chúng tôi là phải để cho thị trường này “xì hơi’ dần dần thì mới mong cứu vãn được, và người mua nhà cũng được lợi.

Có ý kiến cho rằng, các ngân hàng và doanh nghiệp bất động sản cũng không quá khó để “lách” điều kiện về thời gian trong quy định, thông qua việc sửa lại thời gian ký hợp đồng?

Tôi cho là có chuyện đó đấy, vì 30% vốn của thị trường bất động sản là do ngân hàng bơm nên chắc chắn sẽ có sự kết hợp để lách. Tuy nhiên, dù là lách kiểu gì thì các khoản nợ này là rất khó thu, nên dù cố kiểu gì thì cũng như kéo dài thời gian trọng bệnh mà thôi.

Trong các cuộc họp của Hội đồng Tư vấn chính sách tiền tệ Quốc gia, vấn đề bơm vốn cho bất động sản có được bàn thảo, thưa ông? 

Chúng tôi cho rằng, nếu bơm tiếp thì sẽ "giết" nền kinh tế. Do đó, chúng tôi kiến nghị rằng, tín dụng cho lĩnh vực này phải theo hướng cho thị trường "xì hơi" dần.
 
Ông nhìn nhận thế nào về triển vọng thị trường bất động sản trong năm tới?

Năm 2012 sẽ tiếp tục khó khăn đấy, không chỉ với riêng thị trường bất động sản. Việc cấu trúc lại nền kinh tế chắc chắn sẽ khiến cho tình hình khó khăn thêm. Nếu chúng ta cấu trúc lại thì chắc chắn sẽ lòi các khuyết điểm ra.

Hơn nữa, khâu quản lý của chúng ta trong thời gian qua đã quá yếu kém nên mới có hệ quả đó. Vinashin là một ví dụ. Bên cạnh đó, tư duy thị trường của chúng ta cũng quá yếu kém.

Về giá bất động sản trong năm tới, tôi cho rằng thị trường đóng băng thế thôi, nhưng giá cũng không biến động nhiều đâu. Tăng hay giảm không sẽ không đáng kể. Chỉ trừ giá nhà thu nhập thấp là có thể sẽ tăng, nhưng nguồn cung cũng rất hạn hữu vì vốn cả doanh nghiệp lẫn ngân hàng đều khó. Nếu có nhu cầu thì tôi cũng không mua nhà ngay đâu, chờ vài ba năm nữa.

VnEconomy
-->Đọc thêm...
Đọc Thêm | nhận xét

An toàn tài khoản và vấn đề quản trị rủi ro


Mới đây, tại một số CTCK đã để xảy ra tình trạng mất khả năng thanh toán khiến khá nhiều NĐT lo ngại về vấn đề an toàn tiền gửi. Xung quanh chủ đề này, ĐTCK đã có cuộc trao đổi với bà Chu Hải Yến, Giám đốc khối dịch vụ khách hàng CTCK Bản Việt (VCSC).

Thưa bà, hiện tại, các NĐT đang khá lo ngại về tính an toàn của tiền gửi tại các CTCK. Vì sao việc quản lý tách bạch tiền gửi của NĐT đến nay vẫn chưa thực hiện được?

Trước hết, phải khẳng định, chủ trương quản lý tách bạch tiền gửi của khách hàng tại CTCK là một chủ trương đúng đắn. Tuy nhiên, khi triển khai trong thực tế, quy định này có tính khả thi chưa cao bởi một số lý do. Về công nghệ, không nhiều CTCK đủ sức xây dựng được hệ thống công nghệ lõi đủ mạnh để kết nối với ngân hàng phục vụ việc đối chiếu, thanh toán online. Tốc độ xử lý lệnh tại Sở giao dịch là 1/1.000 giây cho một lệnh. Trong khi để đặt lệnh mua - bán đối với các tài khoản của nhà đầu tư mở tại ngân hàng, các CTCK phải thực hiện thêm lệnh xác thực, kiểm tra số dư tài khoản trước khi chuyển lệnh vào Sở giao dịch. Việc này ảnh hưởng đến tốc độ và sự ổn định của quá trình đặt lệnh. Về phía ngân hàng, họ khó có thể tùy tiện chấp nhận cho một CTCK bên ngoài kết nối để đối chiếu trực tuyến số dư tiền của khách hàng khi đặt lệnh và thanh toán giao dịch. Điều này xuất phát từ vấn đề bảo mật, an toàn hệ thống. Vì thế, đa phần các CTCK hiện nay vẫn quản lý tiền gửi của NĐT theo tài khoản tổng: CTCK mở một tài khoản tiền gửi và quản lý chung cho tất cả các khách hàng.

Như vậy thì việc quản lý tách bạch tài khoản của khách hàng tại ngân hàng là không thể thực hiện được?

Việc kết nối với tài khoản của nhà đầu tư tại một ngân hàng thương mại là khó khăn nhưng hoàn toàn có thể thực hiện được. Từ năm 2009, thực hiện theo chủ trương của UBCK,  VCSC đã kết nối trực tiếp với hai ngân hàng thanh toán là BIDV và Vietcombank. Tài khoản của khách hàng được quản lý theo tiêu chuẩn của ngân hàng. Ngân hàng sẽ chỉ chấp thuận các lệnh thanh toán trên các tài khoản này liên quan đến các giao dịch chứng khoán.

Có ý kiến cho rằng, việc các CTCK không muốn tách bạch tiền gửi của khách hàng còn xuất phát từ việc CTCK đối mặt với rủi ro khi không có quyền siết nợ trên tài khoản của khách hàng. Bà nghĩ sao?

Về nguyên tắc, trước khi thực hiện bất kỳ khoản cho vay nào, các chủ thể tham gia trong thỏa thuận này phải thống nhất về các điều kiện cho vay, hỗ trợ tài chính và các hình thức đảm bảo cho khoản vay đó. Đối với các tài khoản kết nối tại ngân hàng, CTCK hoàn toàn có quyền siết nợ trên tài khoản này. Vấn đề ở đây là trước khi thực hiện nghiệp vụ này, các bên liên quan đã lường hết được các rủi ro có thể phát sinh và biện pháp xử lý trong hoàn cảnh đó như thế nào chưa? Chủ thể đi vay, chủ thể cho vay và bên liên quan (ngân hàng nơi quản lý tài khoản) phải có thỏa thuận và thống nhất các quy trình trước khi triển khai bất kỳ nghiệp vụ nào liên quan đến tài khoản của khách hàng.

Hơn nữa, thực tế không phải CTCK nào cũng chú trọng cung cấp đòn bẩy tài chính nên rủi ro từ hoạt động này không phải là một vấn đề lớn. VCSC là một ví dụ. Chúng tôi luôn khuyến cáo khách hàng hạn chế sử dụng tiền vay trong đầu tư chứng khoán.

Sự thận trọng này có khiến VCSC tụt lại phía sau trong cuộc đua mở rộng môi giới?

Khách hàng tại VCSC được chia làm các nhóm rõ rệt: nhóm “lướt sóng” ưa thích sử dụng đòn bẩy và nhóm thận trọng ưa thích giao dịch bằng “tiền thật”. Mỗi nhóm khách hàng có một phong cách giao dịch riêng. Việc cung cấp dịch vụ đòn bẩy tài chính chỉ thu hút được nhóm khách hàng thứ nhất.

Một CTCK hiện đại phải tạo ra các tiện ích tối đa cho khách hàng: công nghệ và tiện ích giao dịch, chất lượng tư vấn. VCSC đang sử dụng hệ thống giao dịch và công nghệ lõi của Tong Yang, một trong những phần mềm giao dịch chứng khoán hiện đại nhất. Hệ thống có khả năng xử lý lên tới 1.500 giao dịch đồng thời, được tích hợp nhiều tính năng hiện đại. Mặt khác VCSC cũng đã đầu tư cho cơ sở hạ tầng và đường truyền ở mức tối đa, điều này giúp cho tốc độ truy cập hệ thống, xử lý và chuyển lệnh vào các sàn nhanh nhất hiện nay. Với sự đầu tư này, năm 2011, VCSC là một trong hai CTCK đầu tiên được cấp phép giao dịch ký quỹ và nằm trong Top 5 CTCK có thị phần môi giới lớn nhất tại HOSE quý III/2011.

Nợ xấu đang là vấn đề “khó nói” của các CTCK nói chung. Bà có bình luận gì về chủ đề này?

Nợ khó đòi của các CTCK phần lớn liên quan đến hoạt động tài trợ đòn bẩy cho giao dịch của khánh hàng. Về nguyên tắc, nợ xấu chứng khoán hình thành từ sự quản lý lỏng lẻo: CTCK coi nhẹ hoặc không quản lý rủi ro khi cung cấp đòn bẩy tài chính cho khách hàng.

Tại VCSC, chúng tôi không vướng phải vấn đề này khi đã xây dựng hệ thống quản lý margin hiệu quả. Chúng tôi không cho khách hàng vay quá giới hạn và trong số ít trường hợp phát sinh ngoài ý muốn, VCSC xử lý theo quy định.

-->Đọc thêm...
Đọc Thêm | nhận xét

'Ngân hàng sẽ hết hấp dẫn'


"Theo mô hình phát triển bền vững, ngân hàng sẽ không còn là ngành đầu tư hấp dẫn. Bản thân ngân hàng thời gian qua bộc lộ nhiều bất cập, cần tái cấu trúc toàn diện", ông Tâm nói với VnExpress bên hành lang Quốc hội.

Tái cơ cấu ngân hàng sẽ là chủ đề được đặc biệt quan tâm tại phiên chấn vấn Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Bình, dự kiến bắt đầu từ chiều nay. Là nhà đầu tư, cũng tham gia lĩnh vực ngân hàng từ đợt sốt 2006 đến nay, song ông Đặng Thành Tâm cho biết rất ủng hộ chủ trương tái cơ cấu toàn diện lĩnh vực này.

- Là một đại biểu Quốc hội thuộc khối doanh nghiệp, ông đánh giá thế nào về chủ trương tái cấu trúc hệ thống ngân hàng đang đặt ra hiện nay?

- Theo quy luật phát triển kinh tế, tất yếu luôn xảy ra quá trình tái cấu trúc, đơn vị nào yếu quá và kém quá sẽ bị đào thải, những đơn vị không thể tự sống một mình sẽ bị các đơn vị tốt hơn thâu tóm. Ngân hàng cũng là một doanh nghiệp, không tránh khỏi các quy luật kinh tế này. Bản thân ngân hàng còn tiềm ẩn nhiều rủi ro hơn, vì nó là nơi điều tiết dòng tiền lưu thông trong toàn bộ nền kinh tế. Toàn bộ những vấn đề của nền kinh tế, nếu có, sẽ bộc lộ đầu tiên qua ngân hàng.

Thực tế thời gian qua cho thấy nền kinh tế đang có vấn đề mà hệ quả là vỡ tín dụng khá nhiều, kể cả tín dụng đen lẫn tín dụng chính thức của các ngân hàng. Do đó, tái cấu trúc và sáp nhập những ngân hàng yếu kém, để lành mạnh hóa hệ thống là chủ trương hết sức cần thiết và đúng đắn.

- Theo ông đâu là những điểm yếu lớn nhất của ngân hàng hiện nay là gì?

- Ngân hàng có vai trò điều tiết và lưu thông dòng tiền đến đúng nơi đúng chỗ. Tuy vậy việc thực hiện vai trò này thời gian qua còn nhiều bất cập, và dòng tiền đôi khi đi chệch hướng. Ví dụ như cần đi vào sản xuất thì lại lắt léo và chui qua phi sản xuất. Dịch vụ ngân hàng lẽ ra cần mở rộng cho vay cộng đồng dân cư, đối tượng vay nhỏ và vừa, hộ gia đình cá thể, để đa dạng hóa khách hàng và phân tán rủi ro, thì một bộ phận vẫn tập trung vào luồn lách cho vay phi sản xuất. Nguy hiểm hơn nữa là một lượng rất lớn tín dụng đã dồn vào một số đối tượng nhất định, làm cho dòng tiền không dễ đến với những doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Một bất cập nữa là nguồn nhân lực ngân hàng. Sự thiếu hụt khá trầm trọng dịch vụ nhân lực ngân hàng và việc chưa hợp lý hóa trong các cấp lãnh đạo của một số ngân hàng cũng là vấn đề đáng xem xét. Từ chỗ nhân sự yếu mới dẫn đến hậu quả là quản lý, điều hành giảm đi sự minh bạch, thiếu đi sự chuyên nghiệp, mà lại vướng vào duy ý chí. Và do đó dòng vốn mới dễ dàng chuyển hướng một cách lệch lạc.

- Hệ quả của việc dòng vốn dịch chuyển lệch lạc đối với chính ngân hàng là gì, thưa ông?

- Dòng vốn đến không đúng địa chỉ, hoặc tập trung quá lớn vào một số đối tượng khách hàng, sẽ trở thành nguy cơ rất lớn. Chỉ cần đối tượng đó gặp khó khăn, ngân hàng cho vay ngay lập tức khó khăn theo.

Nợ xấu của ngành ngân hàng Việt Nam, nếu tính theo chuẩn Việt Nam, hiện vào khoảng 3%, tương đương 90.000 tỷ đồng. Nếu tính theo chuẩn quốc tế, con số này còn kinh khủng hơn thế nhiều lần. Đưa ra một ví dụ thế này, nếu một ngân hàng lớn tổng dư nợ 300.000 tỷ đồng thì đã coi như đã mất 9.000 tỷ đồng. Vốn điều lệ của ngân hàng đó cũng chỉ hơn 15.000 tỷ đồng, với tỷ lệ nợ xấu nói trên, nguy cơ họ mất trắng 50% vốn điều lệ, tức là đã vào trạng thái nguy hiểm.

- Theo anh, những đối tượng ngân hàng nào của Việt Nam hiện nay cần phải tái cấu trúc?

- Ngân hàng Nhà nước là người nắm rõ nhất ngân hàng nào yếu kém, tiềm ẩn nhiều rủi ro và nguy cơ đổ vỡ. Theo ý kiến các chuyên gia và theo tờ trình Quốc hội về các giải pháp kinh tế năm 2012, các ngân hàng yếu kém cần được sáp nhập. Đây là một trong những biện pháp để tái cấu trúc hệ thống ngân hàng. Như vậy các ngân hàng yếu kém sẽ là đối tượng đầu tiên để tái cấu trúc. Nhưng theo tôi, toàn bộ hệ thống ngân hàng, công ty tài chính, tổ chức tín dụng đều cần tái cơ cấu. Ngay Ngân hàng Nhà nước cũng cần đổi mới cách thức điều hành và kiểm tra giám sát để chủ động ngăn chặn kịp thời những hành vi sai trái.

Nợ khó đòi, nợ xấu đang gia tăng, bất kể ngân hàng nào trong hệ thống cũng đều phải xem lại chính mình. Bước đầu tiên là cơ cấu tự nguyện, ngân hàng tự cứu mình trước khi trời cứu. Bước thứ hai, nếu không tự tái cấu trúc được, thì sẽ tự tìm những ngân hàng tốt hơn để xin sáp nhập với họ. Sáp nhập tự nguyện như vậy sẽ bớt cay đắng hơn. Bước thứ ba mới là Nhà nước can thiệp, bắt buộc sáp nhập những ông yếu kém vào ông mạnh hơn, có đầy đủ năng lực để làm cho quá trình sáp nhập thành công, nếu nhầm lẫn trong sáp nhập, ông yếu lại vào với ông yếu quá, thì càng gay go.

- Nhưng khi chủ trương tái cơ cấu được công bố, nhiều người nghĩ ngay tới việc phải xử lý các ngân hàng nhỏ, đặc biệt là các ngân hàng chuyển đổi từ nông thôn ra đô thị. Ông nghĩ sao?

- Nếu lắng nghe thật kỹ báo cáo của Thủ tướng về kế hoạch 2012, sẽ thấy các ngân hàng yếu kém mới là đối tượng phải sáp nhập. Các chuyên gia kinh tế như ông Trần Hoàng Ngân khi trả lời VnExpress cũng nói rất rõ về việc này, tái cơ cấu để ngân hàng làm đúng việc phù hợp với năng lực của mình, nhỏ làm việc nhỏ, nếu họ vẫn lành mạnh thì cần gì sáp nhập. Một khi ngân hàng yếu thì phải sáp nhập, không kể nó to hay nhỏ. Nếu cứng nhắc nói sáp nhập ngân hàng nhỏ là hoàn toàn không chuẩn xác và phạm luật.

Thực tế vừa qua, những trường hợp bị Ngân hàng Nhà nước phát hiện vượt trần lãi suất và xử phạt đều là ngân hàng cỡ trung bình trở lên.

- Quá trình tái cấu trúc ngân hàng cần lưu ý điều gì?

- Tái cấu trúc ngân hàng là nhiệm vụ cực kỳ quan trọng, cần làm quyết liệt, nhưng cũng hết sức thận trọng, minh bạch, bình đẳng giữa các đối tượng và theo đúng cam kết hội nhập WTO. Cũng cần kiên quyết xử lý bất kể đó là ai, ngân hàng lớn hay nhỏ, nhưng cũng cần đúng liều lượng, trong quá trình xử lý cần tiếp thu các phản hồi để không ảnh hưởng tiêu cực đến hệ thống. Nếu không khéo, người dân lo sợ sẽ rút tiền hàng loạt sẽ là vấn đề nghiêm trọng. Cũng cần tránh tối đa những bất cập hoặc là đưa ra chính sách duy ý chí, chưa phù hợp với cam kết hội nhập, trong đó có cả hội nhập về ngân hàng.

Thời gian qua, do nóng vội thực hiện chủ trương tái cấu trúc ngân hàng, đặc biệt là sáp nhập ngân hàng, có lúc chính sách thắt chặt tiền tệ gia tăng liều lượng, khiến lượng tiền trên thị trường liên ngân hàng khan hiếm, lãi suất bị đẩy lên cao, có nơi đến trên 25%. Rất nhiều người vay tiền không được giải ngân theo đúng hợp đồng đã ký. Vì thế mà đã có những rung động khá mạnh trên thị trường tiền tệ, một số ngân hàng tầm trung gặp khó khăn lớn một cách bất ngờ, đòi hỏi Ngân hàng Nhà nước phải hỗ trợ. Cần điều chỉnh chỉnh chính sách một cách linh hoạt và phù hợp, nếu không người dân sẽ tiếp tục rút tiền mua vàng và đôla, làm thị trường tiền tệ thêm tiềm ẩn nguy cơ.

Quá trình tái cấu trúc, sáp nhập sẽ mất thời gian không ngắn, và bước đầu làm chi phí ngân hàng gia tăng. Nên trong ngắn hạn sẽ làm giảm khả năng cạnh tranh và gặp nhiều khó khăn. Tuy vậy, tái cơ cấu và sáp nhập là quá trình tất yếu đối với những ngân hàng yếu kém, công ty yếu kém, dù đau thương cũng phải làm, để lành mạnh hóa hệ thống, giúp lành mạnh hóa nền kinh tế.

- Ông dự báo thế nào về tương lai của ngành ngân hàng khi nền kinh tế được tái cấu trúc toàn diện?

- Trước kia các nước phát triển đi theo mô hình coi trọng dịch vụ. Chiếm tỷ trọng lớn nhất trong GDP là dịch vụ, mà đứng đầu là tài chính và bảo hiểm. Sau đó mới là công nghiệp và nông nghiệp đứng chót trong các lĩnh vực đóng góp vào GDP. Nhưng lịch sử phát triển kinh tế thế giới hàng chục năm nay cũng cho thấy các cuộc khủng hoảng từ trước đều xuất phát từ công nghiệp (khủng hoảng 1929-1933) và tài chính (2008-2012).

Như vậy cần xem lại mô hình tăng trưởng, nông nghiệp sẽ là mũi nhọn trong tương lai. Loại người hàng nghìn năm làm nông nghiệp nhưng trái đất vẫn bền vững, môi trường vẫn đảm bảo, và đặc biệt là chẳng có cuộc khủng hoảng thế giới nào.

Nước ta là nước nông nghiệp, trên 70% dân số ở trong nông nghiệp, vì vậy mô hình phát triển nông nghiệp cần được coi trọng. Tất nhiên cần đưa nông nghiệp vào giai đoạn phát triển mới, đó là giai đoạn nông nghiệp công nghệ cao, năng suất cao hơn, chất lượng tốt hơn.

Những ngành dịch vụ mà cốt lõi là ngân hàng dù vai trò rất quan trọng nhưng sẽ không "hot" như trước đây. Sẽ khó có thể tái diễn cảnh mọi người lao vào mua cổ phần ngân hàng cho dù ngân hàng vẫn đóng góp vai trò quan trọng cho nền kinh tế.

eBank
-->Đọc thêm...
Đọc Thêm | nhận xét

TỪ ĐIỂN

 

 

Thống Kê Blog

CĐQTKD5A - ĐH TÂY ĐÔ

ĐỌC BÁO TRỰC TUYẾN




●THAH NIÊN

●PHỤ NỮ

●THỂ THAO

●CA.TPHCM

●BÓNG ĐÁ

●TUỔI TRẺ

●LAO ĐỘNG

●VIỆT

● VNEXPRESS

● BÁO MỚI

● LAO ĐỘNG

● DÂN TRÍ

● PHÁP LUẬT

● MỰC TÍM

● VN.NET

● Cám ơn các
bạn đã ghé
tham quan, chúc
các bạn và gia
đình luôn vui
vẻ, hạnh phúc
và đạt nhiều
thành công trong
cuộc sống

VÕ VĂN TÙNG
 
Support : Creating Website | Johny Template | Maskolis | Johny Portal | Johny Magazine | Johny News | Johny Demosite
Copyright © [2010-2013]. Võ Văn Tùng - Trường Đại Học Tây Đô.
Bản Quyền Thuộc Về CĐQTKD5A
Khi Đăng lại bài từ trang này vui lòng ghi rõ nguồn CĐQTKD5A.TK